03/06/2019
Lượt xem: 693
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong nuôi tôm nước lợ ở Việt Nam
Nhằm
phổ biến các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) trong sản
xuất và tiêu thụ tôm nước lợ; các sản phẩm KH&CN, thiết bị phục vụ trong
nuôi tôm nước lợ, ngày 24/5/2019 Tổng cục Thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn phối hợp với Hội Nghề cá Việt Nam và Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn tỉnh Sóc Trăng tổ chức Diễn đàn KH&CN “Ứng dụng các giải pháp giảm
chi phí sản xuất tôm nước lợ”. Diễn đàn với sự tham dự của các công chức, viên
chức công tác trong ngành thủy sản, KH&CN; các doanh nghiệp, Hợp tác xã, Tổ
hợp tác, hộ nuôi tôm đến từ 30 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Tôm nước lợ (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) là một trong
những đối tượng nuôi, sản phẩm xuất khẩu chủ lực của cả nước. Theo thống kê của
Tổng cục Thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích nuôi tôm
nước lợ của cả nước năm 2018 là 736.000 ha (trong đó, tôm sú là 632.000 ha, tôm
thẻ chân trắng là 104.000 ha), sản lượng đạt 762.000 tấn (trong đó, tôm sú là
298.000 tấn, tôm thẻ chân trắng là 4.64.000 tấn), giá trị kim ngạch chiếm khoảng
45% tổng giá trị kim ngạch thủy sản của cả nước. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm nước
lợ đang gặp một số khó khăn như: Dịch bệnh ngày càng tăng, môi trường vùng nuôi
bị ô nhiễm, hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu, chưa chủ động được nguồn tôm
giống đạt chất lượng tốt, giá vật tư đầu vào tăng; sản phẩm nhiễm thuốc kháng
sinh, tạp chất, giá bán không ổn định,... Vì vậy việc đẩy mạnh ứng dụng các tiến
bộ KH&CN trong sản xuất tôm nước lợ là cần thiết nhằm góp phần hạn chế rủi
ro, mang hiệu quả kinh tế cho người nuôi tôm.
Tại Diễn đàn các đại biểu đã được nghe các nhà khoa học,
doanh nghiệp giới thiệu nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN đã và đang được
các doanh ngiệp và người dân áp dụng trong sản xuất, kinh doanh tôm nước lợ đạt
hiệu quả như: Mô hình nuôi tôm công nghệ cao thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng
dựng năng lượng sạch trong nuôi trồng thủy sản; ứng dụng phần mềm tiện ích
trong kiểm soát ao nuôi tôm (IQuatic); Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng 3 giai
đoạn (CPF); Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 2 giai đoạn ít
thay nước theo công nghệ Trúc Anh; mô hình sinh thái trong nuôi tôm bền vững;
mô hình doanh nghiệp xã hội phát triển bền vững cho người nuôi tôm trong rừng
ngập mặn; sử dụng hợp lý thức ăn, dinh dưỡng, chế phẩm sinh học trong nuôi tôm
nước lợ; mô hình liên kết chuỗi sản xuất tôm nước lợ; ứng dụng công nghệ thông
tin trong mua bán tôm thông qua “Sàn giao dịch Tôm Việt”; các sản phẩn
KH&CN, thiết bị, chế phẩm sinh học,… phục vụ trong nuôi tôm nước lợ. Đồng
thời các đại biểu cũng đã trao đổi, thảo luận xoay quanh các vấn đề về cách thức,
chi phí chuyển giao các quy trình công nghệ, các thiết bị; chất lượng tôm giống,
dịch vụ đầu vào, dịch bệnh, xử lý chất thải trong nuôi tôm; chi phí sản xuất, sự
biến độ của giá bán, thị trường xuất khẩu tôm thương phẩn;… Qua đó, giúp cho
các doanh nghiệp, Hợp tác xã, Tổ hợp tác, người nuôi tôm lựa chọn các tiến bộ
KH&CN phù hợp để ứng dụng vào thực tiễn sản xuất; góp phần nâng cao năng suất,
chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao sự cạnh tranh,
giá trị của sản phẩm trên thị trường; mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân
và doanh nghiệp cũng như phát triển bền vững ngành tôm nước lợ của Việt Nam
trong thời gian tới.
Tại Diễn đàn, TS. Trần Đình Luân, Phó Tổng cục Trưởng Tổng
cục Thủy sản nhận định: Thời gian qua, trong việc thực hiện tái cơ cấu ngành
nông nghiệp nói chung và ngành tôm nước lợ nói riêng đã có nhiều mô hình sản
xuất ứng dụng tiến bộ KH&CN, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; giảm
chi phí sản xuất và mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân. Để phát triển
ngành tôm nước lợ của Việt Nam trong thời gian tới, TS. Trần Đình Luân đề nghị,
các ngành chức năng, doanh nghiệp và người nuôi tôm cần tiếp tục đẩy mạnh việc
chuyển giao, nhân rộng các mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN đạt hiệu quả vào
sản xuất; tăng cường công tác quản lí về chất lượng tôm bố mẹ, tôm giống, vật
tư đầu vào trong sản xuất tôm nước lợ; tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chuỗi
giá trị, hình thành vùng nuôi tôm nguyên liệu quy mô lớn, truy xuất nguồn gốc; áp
dụng các tiêu chuẩn Quốc tế như ASC, BAP,… nhằm nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm, đáp ứng yêu cầu cho xuất khẩu.
Lâm Văn Tùng